Chương 3: Thời Kỳ Hiện Đại Và Tôn Giáo Của Sa-tan (Phần 5)

Chương 3: Thời Kỳ Hiện Đại Và Tôn Giáo Của Sa-tan (Phần 5)

III. Chủ Nghĩa Đa Nguyên Tôn Giáo

C. Sự Phát Triển Của Chủ Nghĩa Đa Nguyên Tôn Giáo

Thần học tự do (Chủ nghĩa cấp tiến) trở nên cụ thể hoá vào thế kỉ 20. Sau khi trải qua Thế chiến thứ I (1914- 1917 SCN), Thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu (1929 SCN), và Thế chiến thứ II (1937-1945 SCN), các hệ phái có nền thần học tự do cảm thấy nhu cầu cần phải liên hiệp với nhau. Vì vậy, họ bắt đầu một phong trào gọi là Phong trào Đại Kết hoặc Phong trào Hội Thánh Thế Giới. Đây là phong trào nhằm hiệp một trong Chúa Giê-su bằng cách phá vỡ các vách tường ngăn cách giữa các quốc gia, chủng tộc, văn hoá, truyền thống giáo hội, và hệ phái. Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu cách ngắn gọn thế nào những người theo Chủ nghĩa Đa nguyên tôn giáo đạt được và phát triển quyền lực.

1. Hội Đồng Các Hội Thánh Thế Giới, (tên thường gọi WCC)

Vào năm 1948, đại biểu từ 147 Hội Thánh và các hệ phái tập hợp tại Amsterdam, Hà Lan và thành lập Hội đồng các Hội Thánh Thế giới (WCC). Phần lớn các hệ phái truyền thống đại diện cho thế giới Cơ Đốc đều thuộc tổ chức này, và thành viên của nó đang gia tăng hiện nay. 349 Hội Thánh và giáo phái đại diện cho 560 triệu người gần đây thuộc về tổ chức này. Mặc dầu, Giáo hội Công giáo La Mã không phải là thành viên chính thức nhưng nó là một cộng tác viên. Một trong những mối quan tâm hàng đầu của WCC hiện nay là hoà bình thế giới, phong trào nhân quyền, phong trào chống tham nhũng, phong trào xoá đói giảm nghèo, phong trào môi trường, v.v… Đây chính là ‘Missio Dei’ tập trung vào sự cứu rỗi mang tính xã hội. Họ nhấn mạnh việc đối thoại giữa các tôn giáo dựa trên các lý thuyết của Chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo.

Khi chúng ta nghiên cứu lịch sử của WCC, hội đồng lần thứ nhất diễn ra ở Amsterdam, Hà Lan (1948), lần hai tại Evanston, Mỹ (1954), lần ba ở New Delhi, Ấn Độ (1961), lần thứ tư ở Uppsala, Thuỵ Điển (1968), lần năm ở Nairobi, Kenya (1975), lần sáu ở Vancouver, Canada (1983), lần bảy ở Canberra Ngài cũng phán với chúng ta qua họ, chúng ta nên đối thoại với họ về Đấng Christ”. Và họ chính thức bày tỏ rằng Đức Thánh Linh làm việc qua các tôn giáo khác.

Vào năm 1968, họ chỉ định Stanley Samartha, một nhà thần học người Ấn Độ, làm người lãnh đạo của bộ phận đối thoại giữa các tôn giáo trong tổ chức WCC. Cùng với Giáo hội Công giáo La-mã, họ xuất phát công việc đối thoại giữa các tôn giáo cách toàn diện. Đồng thời, qua Bản Tuyên Bố Baar ban hành vào ngày 15 tháng 01 năm 1990 (Baar là một thị trấn trong khu vực thành phố Zurich, Thụy Sỹ), WCC chính thức tài liệu hoá Chủ nghĩa Đa nguyên tôn giáo. Mục đích của họ là theo đuổi sự hiệp nhất và đoàn kết của các tôn giáo trước hết bằng hình thức trang trọng và rõ ràng, mặc dù họ cơ bản khác nhau.

Khi WCC tập trung vào hoà bình thế giới và đối thoại tôn giáo, nó không thể tránh khỏi việc dựa nhiều vào quan điểm nhân đạo Cơ Đốc. Chiến tranh, đói kém, vũ khí huỷ diệt hàng loạt, chủ nghĩa phân biệt phụ nữ, khoảng cách giữa người nghèo và người giàu, sự phân biệt chủng tộc, sự phân biệt người da màu và tàn tật, sự vi phạm nhân quyền, sự ô nhiễm môi trường, V.V…Vì tất cả những hiện tượng xấu này gây nguy hiểm cho hoà bình thế giới, nên WCC bắt đầu xác định chúng là công việc của tà linh. Khi họ làm như vậy, một vài người trong nhóm họ đã phạm phải một lỗi trong việc tuyên bố rằng: Thậm chí các tôn giáo thờ phượng các linh và thần tượng có thể là công việc của Đức Thánh Linh nếu họ làm các việc thiện cho xã hội.

Ví dụ: Tại kỵ hội đồng lần thứ 7 của WCC tại Canberra, nước Úc, việc xảy ra là Chung Hyun-kyung, một nhà thần học phụ nữ người Hàn Quốc, đã thực hiện một nghi lễ của Saman giáo (Gut). Trong bài giảng của bà có tựa đề ‘Xin Thánh Linh Hãy Đến. Làm Mới Lại Vũ Trụ’, Chung đã thực hiện một nghỉ lễ Saman giáo để triệu về và an ủi các linh và hồn của những người vô tội bị hại. Khi chúng ta xem xét những điều sau đây, chúng ta có thể thấy rằng Chung đã xem thần Linh của Chúa Giê-su tương tự như các linh của nước, không khí. Điều này cho thấy bà ấy là người hoàn toàn không am hiểu thuộc linh và Kinh Thánh.

“Hãy đến! Linh hồn của Ha-ga, người Ai-cập, người nữ nô lệ da đen bị bóc lột và ruồng bỏ bởi Áp-ra-ham và Sa-ra, các tổ tiên của niềm tin chúng tôi. Hãy đến! Linh hồn của U-ri, một người lính trung thành bị sai đi và bị giết trên chiến trường bởi vị vua vĩ đại Đa-vít xuất phát từ sự tham lam của vua đối với vợ của người là Bát-sê-ba. Hãy đến! Linh hồn của những bé trai bị giết bởi những lính của vua Hê-rốt do sự giáng sinh của Chúa Giê-su. Hãy đến! Linh hồn của Joan ở Arc, và nhiều phụ nữ khác bị thiêu chết vì bị nghi là phù thuỷ trong suốt kỉ nguyên Trung cổ. Hãy đến! Linh hồn của những người chết trong những cuộc viễn chinh thập tự. Hãy đến! Linh hồn của những người dân bản xứ trên đất, nạn nhân của sự diệt chủng trong suốt thời kỳ Chủ nghĩa thực dân và giai đoạn truyền giáo Cơ Đốc vĩ đại đến thế giới người ngoại. Hãy đến! Linh hồn của những người Do Thái bị giết trong những buồng khí ngạc trong nạn tàn sát người Do Thái thời Đức quốc xã. Hãy đến! Linh hồn của những người bị giết ở hai thành phố Hiroshima và Nagasaki bởi những quả bom hạt nhân. Hãy đến! Linh hồn của đất, không khí và nước, bị hãm hiếp, tra tấn, và bốc lột bởi lòng tham tiền bạc của con người. Hãy đến! Linh hồn của những người lính, những thường dân, và những sinh vật biển bây giờ đang chết trong chiến tranh đẫm máu ở vùng Vịnh. Hãy đến! Linh hồn của Nhà giải phóng, người anh em Giê-su, bị tra tấn và giết chết trên cây thập tự.” (Introducing the World Council of Churches / Marlin VanElderen – Geneva : World Council of Churches, 1990.)

Dĩ nhiên là nghi lễ Saman giáo của Chung bị chỉ trích cách nặng nề bởi các Cơ Đốc giáo tin lành và kể cả các hệ phái thành viên của WCC. Cho dầu như thế, sự kiện này chỉ là một trường hợp cho thấy cách tượng trưng tình trạng huỷ hoại thuộc linh mà một người cuối cùng sẽ đạt đến khi người đó ôm lấy Chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo.

2. Hội Đồng Va-ti-căng II

Động lực chủ yếu nhất cho sự phát triển mang tính quốc tế của Chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo là Hội đồng Va-ti-căng II (1962-1965) được tổ chức vào năm 1962.

Hội đồng được triệu tập bởi Đức Giáo Hoàng John XXIII nhưng ông đã qua đời trong quá trình Hội đồng, vì vậy Đức Giáo Hoàng Paul VI phải kết thúc nó. Các giáo chủ hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục và các nhà thần học tham dự hội đồng có số lượng khoảng 2.540 hàng năm. Các chủ đề được thảo luận trong suốt ba năm hội đồng là ‘Phong trào đại kết và mối quan hệ với các tôn giáo’.

Một trong những công bố được ban hành ở hội đồng này là ‘Công bố về mối quan hệ của Hội Thánh với các tôn giáo không phải là Cơ Đốc giáo’, và qua lời công bố này, Giáo hội Công giáo La-mã chính thức công nhận Chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo. Bản công bố này phát biểu rằng các tín đồ của Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, và tất cả các tôn giáo khác là anh chị em trong Chúa. Trong bản công bố này, có một câu nói như sau:

“Giáo hội Công giáo không từ chối bất cứ điều gì thật và thiêng liêng trong những tôn giáo này. Hội Thánh chân thành kính trọng những niềm tin và lối sống (của các tôn giáo khác), những giới luật và sự dạy dỗ, dù khác nhau về nhiều phương diện so với những gì Hội Thánh đang giữ và đề ra, nhưng thường phản chiếu một tia sáng Chân lý giúp con người giác ngộ.” Ở đây, Chân lý nói về Chúa Giê-su. Nói cách khác, lời tuyên bố này tin rằng các sự dạy dỗ của các tôn giáo khác cuối cùng sẽ dẫn các tín đồ đến với Chân lý, Chúa Giê-su Christ. Họ đã bị lừa dối bởi hệ thống tư duy và hợp lí, và hậu quả là họ đi đến tình trạng chối bỏ cốt lõi của Cơ Đốc giáo, tức Chúa Giê-su là Cứu Chúa duy nhất.

Ngoài ra, các nhóm theo thần học tự do bắt đầu chấp nhận Hồi giáo là con cái của Đức Chúa Trời. Giáo hội Công giáo La Mã xác nhận Allah của Hồi giáo là Đức Chúa Trời của Cơ Đốc giáo trong bản công bố. Đối với Hồi giáo, bản công bố tiếp tục như sau: “Hội Thánh (Công giáo) cũng quan tâm đến người Hồi giáo với lòng quý trọng (Hồi giáo cũng có những điều chung dưới dây giống như Cơ Đốc giáo và Công giáo La-mã có). Họ (Hồi giáo) thờ phượng cùng một Đức Chúa Trời, sống và tồn tại trong Ngài; Đấng tạo dựng trời đất, giàu lòng thương xót và toàn năng.” Những hành động phi Cơ Đốc và phi Kinh Thánh của các giáo phái tự do bao gồm cả Giáo hội Công giáo La-mã vẫn tiếp tục.