GIÊ-RI-CÔ, THÀNH PHỐ CỔ NHẤT THẾ GIỚI CHỨNG MINH SỰ THẬT KINH THÁNH

Giô-suê đánh chiếm Giê-ri-cô

GIÊ-RI-CÔ, THÀNH PHỐ CỔ NHẤT THẾ GIỚI CHỨNG MINH SỰ THẬT KINH THÁNH

Giô-suê đánh chiếm Giê-ri-cô
Giô-suê đánh chiếm Giê-ri-cô

Giê-ri-cô có lẽ là một danh từ quen thuộc không chỉ với những người theo đạo Đức  Chúa Trời. Hầu hết các nhà khảo cổ và lịch sử học đều đồng ý rằng đây là một trong những thành phố cổ nhất của nhân loại mà vẫn còn tồn tại. Những bộ phim, sách và những nhân vật hư cấu mang tên Giê-ri-cô nhan nhản trên các phương tiện truyền thông. Giê-ri-cô được sử dụng làm biểu trưng cho cái xấu, tội lỗi, hung tàn… và điều đó xuất phát từ câu chuyện được Kinh Thánh ghi chép trong sách Giô-suê.

Đã từ lâu Giê-ri-cô là một nan đề của Cơ Đốc Giáo, vì những chứng tích còn lại không đủ để chứng thực cho câu chuyện kỳ vĩ mà Kinh thánh ghi lại, và phần nhiều các học giả cho rằng đó chỉ là một truyền thuyết.

Thành Giê-ri-cô, nguyên thủy thời Giôsuê, nằm khoảng 8 km tây ngạn bờ sông Giodan, và cách 11 km về hướng Bắc của Biển Chết. Tuy nằm trên một ngọn đồi nhưng Giê-ri-cô là một thành phố có vị trí thấp nhất thế giới. Giê-ri-cô thấp hơn mặt nước biển 240m.

Còn Giê-ri-cô thời cổ, gọi là Tell-es-Sultan. Nay chỉ còn là một ngọn đồi đang bị giới khảo cổ khai quật nhiều nơi.

 

Vào thời đó, Giê-ri-cô là một chiến luỹ quan trọng và kiên cố án ngữ cửa ngõ dẫn vào bình nguyên Giođan trù phú. Trên đướng tới Đất Hứa, dân Israel phải đi qua cửa ải này, ngay sau khi vượt sông Giodan (Giô-suê uê 3,1-17)

Câu chuyện Kinh Thánh kể về Giêrichô có xác thực không ?

Một điều rất thú vị là vào năm 1997, khoa khảo cổ đã đưa ra ánh sáng từng chứng cớ cụ thể xác minh những điều nói trong Kinh Thánh về cuộc chiếm thành Giê-ri-cô của dân Do thái là đúng. Đúng đến từng chi tiết! Từ bờ thành sụp đổ cho đến từng vò đựng hạt ngũ cốc, và trò tàn của cuộc đốt phá. Tất cả đều được phát hiện và khai quật ( Giô-suê  6,24).

Công trình khai quật của nhà khảo cổ Kenyon cho thấy thực sự thành Giê-ri-cô có tường dày bao quanh, không chỉ một mà hai bức tường và thành đã bị đốt cháy. Có điều cô đã thẩm định sai về niên biểu. Cô cho rằng có sự dị biệt lớn giữa khảo cổ và thuật trình Kinh Thánh. Theo ý kiến của cô, Giê-ri-cô đã bị người Ai cập tàn phá vào khoảng năm 1550 trước Công Nguyên, vào đầu thời đồ Đồng.

Thật ra, khi nghiên cứu thêm cho tường tận, chúng ta phải kết luận Giê-ri-cô đã bị tàn phá vào khoảng năm1400 trước Công Nguyên, trùng với thời điểm người Do thái công phá thành để vào Đất Hứa,nghĩa là vào cuối thời đồ Đồng.

Ngọn đồi, từ tiếng Anh gọi là ‘tell’, của Giê-ri-cô được bao bọc chung quanh bởi một cái luỹ đắp bằng đất, chắn giữ bởi một bức tường bằng đất nhưng phần nền được “cố” cho vững bằng nhiều lớp đá xếp chồng. Tường này cao từ 3 đến 5 thước. Chồng trên bức tường này, lại là một bức tường khác bằng gạch được làm bằng bùn khô, dầy hai thước và cao chừng 6 đến 8 thước.

Đây là hình mặt cắt, cho thấy cách kiến tạo tường thành phiá tây của Giêrichô theo khai quật của nhà khảo cổ Kenyon.

Như thế, từ mặt đất nơi dân Do thái rước kiệu Hòm Bia hằng ngày, từ chân tường lên đến đỉnh, chiều cao có đến 14 thước.

Bình thường mà nói, người Do thái không có cách gì vượt qua được bức tường này, với phương tiện lúc bấy giờ của họ. Họ chỉ là đám dâm du mục lang thang từ sa mạc vào.

Diện tích giữa hai bức tường thành bao chung quanh ngọn đồi, được các nhà khảo cổ ước lượng chừng 6 mẫu tây. Cộng thêm phần diện tích ở giữa ngọn đồi, diện tích ở được là chừng 9 mẫu. Cứ cho là khoảng 200 cư dân mỗi mẫu, thì dân số của Giêrichô lúc bây gìờ được ước đoán là 1200 người dồn tụ ngay chỏm đồi. Thêm những người sống giữa hai bức tường, như gia đình của cô gái giang hồ Rahab, và những dân cư khác ở lân cận chạy vào trú núp, thì chúng ta có thể kết luận, lúc người Do thái bắt đầu khởi binh, dân số trong thành Giê-ri-cô có thể lên đến vài ngàn người .

Trong bản Do thái, gốc của động từ tahteyha – sụp đổ tại chỗ trong Giô-suê 6:5, 20 là động từ tahath, có nghĩa là ‘ở dưới’ hay ‘từ phía dưới’ với đại danh từ tự quy ngôi thứ ba giống cái là ha quy chiếu về hômah, ‘tường thành’. Như thế chúng ta có thể hiểu “chân tường tự động đổ nhào” !

Di chỉ khảo cổ có cho chúng ta thấy được điều đó không ? Quả có như thế thật. Ở phía Tây ngọn đồi, nhà khảo cổ Kenyon tả lại như sau, ngay chân của phần tường: “có cả đống gạch vụn nằm chồng lên nhau cho tới gần ngọn. Gạch vụn này hẳn là do phần tường phía trên đổ xuống.”

Một đoàn khảo cổ người Ý, vào năm 1997, cũng thấy y hệt như vậy.

Hình này minh hoạ phần tường phía bắc của Giêrichô, dựa vào những khai quật của đoàn khảo cổ Đức nằm 1907-1909. Hình cho thấy có nhà ở dựa vào vách tường. Nhà kỹ nữ Ra-háp cũng nằm ở một vị trí tương tự, cửa sổ thông hẳn ra ngoài thành (Giô-suê  2,15).

tường thành giê-ri-cô
tường thành giê-ri-cô

“Bấy giờ, từ cửa sổ cô thòng dây cho họ xuống, vì nhà cô sát vách tường thành và cô ở ngay trong tường thành.” (Giô-suê  6,15)

Bản Kinh Thánh Do thái, ở câu Giô-suê 2,15 dùng chữ “beqîr hahômah.- sát vách tường”. Thông thường từ qîr có nghĩa là “bức tường nhỏ”, nhưng còn có nghĩa là “mặt phẳng của bức tường”. Cuốn Từ vựng của các tác giả Brown, Driver và Briggs gợi ý rằng trong câu Giô-suê 2:15 (trang 885), giới từ “be” trong “beqîr” c ó nghĩa là “dựa vào” (trang 89).

Như vậy, nếu dịch sát, thì chúng ta có thể dịch là “nhà cô dựa vào bề mặt đứng của tường thành” Hay bình dân hơn, chúng ta có thể nói “nhà cô lấy tường thành làm vách”! Có vậy cửa sổ nhà cô trổ ra từ tường thành và ngó thẳng ra ngoài thành, về phía rừng cây um tùm cách đó không xa.

Nếu thế, khi tường đổ, làm sao nhà kỹ nữ Ra-háp còn nguyên vẹn ? Các thám tử đã dặn Rahab mang tất cả mọi người trong gia đình tụ về đây, thì mọi người sẽ được cứu.

Khi người Do thái ồ ạt tràn vào thành, leo lên đống gạch đổ như một cái thang mà vào thành, họ để cho căn nhà và gia đình kỹ nữ Ra-háp được nguyên vẹn an toàn “Ông Giô-suê nói với hai người đã đi do thám trong xứ: “Hãy vào nhà người kỹ nữ, và đem người đàn bà ấy cũng như mọi người thân thuộc của cô ra khỏi đó, theo như anh em đã thề hứa với cô.”23 Vậy các người thanh niên do thám vào nhà cô Ra-háp, và đem cô ra khỏi đó cùng với cha mẹ, anh em cô và mọi người thân thuộc của cô; họ đem tất cả thị tộc của cô ra khỏi đó, và cho họ ở bên ngoài trại Y-sơ-ra-ên.” (Giô-suê 2,12-21; 6,17, 22-23)

Đoàn khảo cổ Đức, vào năm 1907-1909 đã thấy một phần tường phía Bắc của Giê-ri-cô không bị sụp như những nơi khác. Một phần tường gạch, cao trên hai thước, vẫn còn nguyên. Và điều thú vị là, dựa vào khoảng tường còn nguyên này, có những căn nhà. Y hệt như Kinh Thánh đã miêu tả cặn kẻ. Dĩ nhiên rất có thể đó là căn nhà của Rahab.

tường thành giê-ri-cô nguyên vẹn
tường thành giê-ri-cô nguyên vẹn

Xem hình bức tường gạch còn nguyên

Hơn nữa , từ khoảng thành này ngó ra bên ngoài, là dãy đồi hoang , chỉ cách có một khoảng ngắn. Hẳn đây từng là khu rừng cây mà các thám tử đã trú trong ba ngày, sau khi thoát ra từ cửa sổ nhà kỹ nữ Ra-háp. “Cô nói với họ: “Các ông hãy đi về phía núi, kẻo những người đuổi theo bắt được các ông. Các ông cứ ẩn núp ở đấy ba ngày cho đến khi chúng trở về. Sau đó, các ông cứ đường mình mà đi. .. Họ lên đường và tiến về phía núi. Họ ở lại đó ba ngày cho đến khi những kẻ đuổi theo trở về. Những người này đã đi lùng họ trên cả con đường ấy mà không tìm được.23 Hai người kia trở về: họ xuống núi, qua sông Giô-đanh, rồi tới gặp ông Giô-suê .” ( Giô-suê  2:16-22)

Sau khi chiếm thành người Do thái hoả thiêu Giê-ri-cô: “Rồi họ phóng hoả đốt thành cũng như tất cả những gì trong đó; ngoại trừ vàng bạc và những đồ đồng, đồ sắt, thì người ta nộp vào kho tàng nhà Đức Chúa Trời”. ( Giô-suê  6,24)

Một lần nữa, khoa khảo cổ đã thấy sự thật y như Kinh Thánh đã miêu tả: Ở phiá đông ngọn đồi Giê-ri-cô, các nhà khảo cổ thấy cả một lớp tro dày gần một thước. Nhà khảo cổ Kenyon đã tả lại như sau: “Cuộc tàn phá thật là hoàn toàn. Tường, nền, khắp nơi đều cháy đen hay bị nung đỏ lên vì lửa. Phòng nào cũng ngổn ngang gạch vụn, đòn dông xà ngang trần nhà, hay đồ vật dụng. Đồ đạc mọi chỗ đều mang dấu vết bị cháy rụi. Nhưng phần tường phía Tây dường như bị đổ nhào trước cuộc hoả thiêu.” (Xem Kenyon, Excavations at Jericho, 3:370.)

Cả Nhà khảo cổ Garstang và nhà khảo cổ Kenyon đều tìm thấy nhiều hũ đựng đầy nhũ cốc. Nhưng tại các hũ ngũ cốc không bị hoả thiêu khi dân Do thái tàn phá thành Giê-ri-cô ? Chính Kinh Thánhh cho ta lời giải đáp. Giôsuê đã ra lệnh cho con dân Israel rằng thành Giê-ri-cô và tất cả những gì trong thành đều thuộc về Đức Chúa Trời: “Thành và mọi sự trong thành sẽ được dâng lên cho  Đức Chúa Trời, chỉ có Ra-kháp và mọi người ở với cô trong nhà là sẽ được sống, vì cô đã giấu các sứ giả chúng ta sai đi.”( Giô-suê  6:17)

Những hũ ngũ cốc nguyên vẹn là lời chứng âm thầm nhưng hùng hồn cho thấy sự vâng lời tuyệt đối của con dân Do thái dành cho Đức Chúa Trời cách đây hơn ba thiên niên kỷ rưỡi.

Những tương đồng giữa khảo cổ và Kinh Thánh có thể tóm lại như sau:

Kinh Thánh nói rằng Giê-ri-cô là một thành kiên cố, có tường bao quanh và có cổng ra vào (Giô-suê  2:5,7,15; 6:5,20). Tờ báo Khảo cổ Biblical Archaeology Review ghi lại: “Giê-ri-cô được bao bọc chung quanh bởi một cái luỹ đắp bằng đất, chắn giữ bởi một bức tường bằng đất nhưng phần nền được “cố” cho vững bằng nhiều lớp đá xếp chồng. Tường này cao từ 3 đến 5 thước. Chồng trên bức tường này, lại là một bức tường khác bằng gạch được làm bằng bùn khô, dầy hai thước và cao chừng 6 đến 8 thước.”

Theo Cựu Ước, cuộc công thành xảy ra vào ngày 14 tháng Abib (khoảng tháng Ba hay tháng Tư): “Con cái Y-sơ-ra-ên đóng trại ở Ghin-gan và cử hành lễ Vượt Qua ngày mười bốn trong tháng, vào buổi chiều, trong vùng thảo nguyên Giê-ri-khô” (Giô-suê  5,10), nghĩa là lúc đó vào cuối mùa xuân, nhằm vào mùa thu hoạch: “Bấy giờ là mùa gặt; sông Giô-đanh tràn ra hai bên bờ suốt mọi ngày. “ (Giô-suê  3,15). Kỹ nữ Ra-háp đang phơi cây gai trên mái nhà : “Rồi cô ta đem họ lên sân thượng và giấu họ dưới đống cây gai cô đã xếp ở đó.” (Giô-suê  2:6). Cả Nhà khảo cổ Garstang và nhà khảo cổ Kenyon đều tìm thấy được nhiều hũ ngũ cốc tồn trữ trong nhà. Có nơi tìm được đến 6 hũ. Đó là điều rất đặc biệt trong lịch sử khảo cổ vùng Đất Thánh Do thái (trang 56).

Kinh Thánh nói cuộc tiến công xảy ra nhanh chóng, chỉ trong vòng bảy ngày: “Họ làm như vậy sáu ngày. Ngày thứ bảy, họ dậy sớm khi hừng đông ló rạng, và đi vòng quanh thành bảy lần cùng theo một cách thức. Chỉ có ngày đó họ mới đi vòng quanh thành bảy lần. Đến lần thứ bảy, khi các tư tế thổi tù và, ông Giô-suê nói với dân: “Hãy hò reo xung trận, vì Đức Chúa Trời đã nộp thành cho anh em.” (6:15-17). Dân Giê-ri-cô bị kẹt trong thành, không lối thoát. “Giê-ri-cô đóng kín cổng thành, phòng thủ chống lại con cái Y-sơ-ra-ên: nội bất xuất, ngoại bất nhập.” (Giô-suê  6,1). Số lượng lớn thực phẩm khai quật được đã chứng minh điều này. Nếu dân Giê-ri-cô thoát được ra ngoài, hẳn họ đã mang theo lương thực. Nếu cuộc bao vây tấn công kéo dài lâu hơn, hẳn dân thành đã ăn hết thực phẩm. Trình thuật Cựu Ước đã rất chính xác.

Khi con dân Do thái hò reo la to vào ngày thứ bảy: “tường thành sụp đổ tại chỗ. Dân chúng ai nấy cứ thẳng trước mặt mình mà tiến lên đánh thành, và đã chiếm được.” (Giô-suê  6:20; Nhà khảo cổ Kenyon đã khai quật thấy ngay tại chân ngọn đồi Giê-ri-cô từng đống gạch vụn mà cô cho rằng : “Gạch vụn này hẳn là do phần tường phía trên đổ xuống.” Giáo sư Wood nhận định rằng luợng gạch đổ nát là từ “bức tường khác bằng gạch được làm bằng bùn khô, dầy hai thước và cao chừng 6 đến 8 thước.” (trang 54).

Theo Kinh Thánh, Giê-ri-cô sau đó được “dâng lên” cho Đức  Chúa Trời, nghĩa là người Do thái phải thu góp vàng, bạc sắt tìm được ở Giê-ri-cô mang để vào Kho của Đức Chúa: “ngoại trừ vàng bạc và những đồ đồng, đồ sắt, thì người ta nộp vào kho tàng nhà ĐỨC CHÚA”. Tuy nhiên họ không được lấy bất cứ thứ gì làm của riêng “Anh em phải đề phòng án tru hiến, kẻo anh em bị án tru hiến vì lấy đồ vật nào trong số những gì bị án biệt hiến.” (Giô-suê  6:17-19). Khảo cổ đã chứng minh điều này. Như chúng ta đã nhắc trên , các hũ ngũ cốc vẫn còn nhiều và nguyên vẹn. Tuy ngũ cốc là vật rất quý vào thời đó, người ta thường dùng nó như vật trao đổi “Thế là vua Khi-ram cung cấp cho vua Sa-lô-môn tất cả gỗ bá hương và gỗ trắc như vua Sa-lô-môn muốn. Và vua Sa-lô-môn trao cho vua Khi-ram bốn trăm ngàn thùng lúa miến làm lương thực cho triều đình của vua này, với bốn mươi ngàn thùng dầu nguyên chất.”. Như thế chúng ta mới hiể tại sao,dù ngũ cốc là vật quý, mà nguời Do thái đã chặng dám đụng chạm đến chiến lợi phẩm này. Các hũ ngũ cốc vẫncòn nguyên cho đến… ngày nay. Quả thật, Kinh Thánh đã ghi chép chính xác!

Kinh Thánh ghi lại rằng, sau khi chiếm thành người Do thái phóng hỏa đốt thành: “Rồi họ phóng hoả đốt thành cũng như tất cả những gì trong đó”. Kenyon viết trong báo cáo: “Tường, nền, khắp nơi đều cháy đen hay bị nung đỏ lên vì lửa. Phòng nào cũng ngổn ngang gạch vụn, đòn dông xà ngang trần nhà, hay đồ vật dụng. Đồ đạc mọi chỗ đều mang dấu vết bị cháy rụi.” (Xem Kenyon, 1981, trang 370; trích theo Wood, trang 56).

Kinh Thánh còn ghi rằng nhà kỹ nữ Ra-háp “sát vách tường thành và cô ở ngay trong tường thành.” (Giô-suê  2,15). Xem hình minh hoạ ta thấy giữa hai lớp tường thành có một khuông đất, nơi tụ tâp dân nghèo trong thành. Họ làm nhà dựa lưng vào tường. Đúng hơn họ dùng tường thành làm tường nhà. Quả là không còn chỗ nào thích hợp hơn cho nhà một cô gái điếm nghèo.

Bài học Giê-ri-cô

Cả Grastang và nhà khảo cổ Kenyon đều cho rằng do một cuộc động đất. Nếu Đức  Chúa Trời dùng cuộc động đất để thực hiện ý định của Ngài, thì đó vẫn còn là một phép lạ. Vì sự kiện đó đã xảy ra đúng lúc đúng nơi, và phục vụ cho ý định của Chúa.

Quả thật dù là bằng cách nào mà tường thành Giê-ri-cô sụp đổ, thì vẫn là do Đức  Chúa Trời can thiệp, qua đức tin của con dân Do thái: “Nhờ đức tin, tường thành Giê-ri-khô đã sụp đổ, sau khi dân Y-sơ-ra-ên đi vòng quanh trong bảy ngày.” (Hê-bơ-rơ 11:30)

Hơn nữa trình thuật về thành Giê-ri-cô gởi cho chúng ta một bài học: Đừng vì một xung khắc biểu kiến với khoa học mà cho rằng trình thuật Kinh Thánh không đáng tin.

Biên soạn: nguontinhyeu.com